Một dấu ấn trên trán bạn sẽ cho biết vị thần mà bạn phải thờ phụng để được tiếp tục sống, thường là bằng cách gia nhập giáo đoàn hoặc ngôi đền của vị thần nào đó ở địa phương. Dấu ấn của bạn là một ẩn số, nghĩa là một vị thần cổ xưa, bị lãng quên, đã bảo trợ cho bạn. Để sống sót, bạn phải tìm một ngôi đền cũ để thờ phụng, hoặc gánh vác nhiệm vụ gian truân xây dựng một ngôi đền mới.
Nguồn: tumblr
Trong ngôi làng chài nhỏ bé của bạn, chưa ai từng thấy Thần Ấn mà bạn mang trên người từ khi sinh ra.
Đó là một chuỗi những đường nét màu gỉ sắt sẫm đan chéo vào nhau, với một mũi tên dọc ở bên trái và một vòng tròn ở bên phải, nằm ngay phía trên nơi chân mày bạn giao với thái dương.
Vài thương nhân từ trên núi xuống nói rằng nó trông giống một trong những loại văn tự được sử dụng ở vùng cao, nhưng chẳng ai trong số họ nhận ra đó là thứ ngôn ngữ gì.
“Nếu con bé có chí khí.” Họ khuyên, “Thì cứ để nó lên vùng cao thử vận may xem sao. Mở đền ở đây cũng chẳng ích gì nếu nó có thể tìm thấy bạn đạo của mình ở một nơi khác, chỉ cần bỏ chút công tìm kiếm.”
Ban đầu, cha mẹ bạn không nỡ để bạn đi xa.
Dù bạn là một đứa trẻ ngoan và chăm chỉ làm việc nhà, nhưng bạn lại ốm yếu và không có một vị thần nào để tôn thờ.
Hơn nữa, bạn vốn là một đứa trẻ hay mộng mơ – có thể mải mê ngắm nhìn những giọt mưa đuổi nhau trên ô cửa sổ hay những xúc tu của một con hải quỳ đung đưa trong vũng nước trên ghềnh đá mà quên cả thời gian.
Thay vào đó, họ gửi bạn đến đền thần Bão Tố để học hỏi mọi thứ cần thiết cho vị thần của riêng bạn sau này.
Bạn đã có một khoảng thời gian hạnh phúc tại đó: dọn dẹp giường chiếu, phục vụ cơm nước cho những người trôi dạt ghé qua, canh gác ngọn hải đăng, đốt hương và cầu nguyện cùng những goá phụ trung trinh và những đứa trẻ của những người đã bị biển sâu nuốt chửng.
Một trong những goá phụ ấy, một bà lão rất rất già, đã chạm vào dấu ấn trên trán bạn.
“Bà nhận ra những con chữ này. Ở cái thị trấn mà bà lớn lên, tít tận bên kia dãy núi, tụi bà từng viết theo lối này.”
Tim bạn đập thình thịch. “Nó viết gì vậy ạ!?”
Bà nheo đôi mắt chìm nghỉm trong những nếp nhăn và ẩn sau cặp kính mờ đục.
“A… Ar… Ôi, bà không còn nhớ cách nói thứ tiếng đó nữa rồi. Bà đã rời đi trước khi học thuộc mặt chữ. Cháu biết đấy, hồi đó có chiến tranh. Nhưng bà nhớ.” Bà mơ màng nói, “Những bông hoa hồng và trắng đẹp nhất thường mọc ven những cánh đồng lúa mì…”
Bạn cố gắng hỏi thêm, nhưng việc nhớ lại cuộc chiến khiến bà đau buồn, nên bạn đã nói sang chuyện khác.
Khi bà đã thiếp đi, bạn đứng dậy, trở về nhà và nói với cha mẹ: “Con sẽ lên đường tìm kiếm vị thần của mình”.
Cha đưa cho bạn chiếc áo khoác vải dầu tốt nhất của ông, còn mẹ thì gói đủ cá muối để nuôi cả một đội quân nhỏ.
“Biết đâu vị thần của con sẽ có một ngôi đền bề thế nơi thành thị.” Cha bạn gợi ý, “Với thật nhiều vị tư tế và tín đồ.”
“Biết đâu được ạ.” Bạn khẽ đáp.
Sự thật là, bạn chẳng quan tâm nếu ngôi đền ấy chỉ là một túp lều tồi tàn, miễn là vị thần bên trong là của riêng bạn.
Cô bạn thân ôm chầm lấy bạn thật chặt để từ biệt, vội lau đi những giọt nước mắt trên đôi má tàn nhang.
Cô ấy tặng bạn một mặt dây chuyền bằng xà cừ do chính tay cô ấy đánh bóng, xỏ qua một sợi dây câu cũ.
“Khi nào bà tìm thấy Ngài, hãy tặng nó cho vị thần của bà nhé.”
Bạn gật đầu, cũng sụt sùi vài giọt nước mắt, rồi lên đường.
Ban đầu, chuyến đi của bạn tiến triển khá chậm.
Bạn đã dành dụm được một ít tiền khi làm việc ở đền thần Bão Tố, nhưng vẫn phải tìm việc làm dọc đường đi để trang trải.
Bạn đi theo những đoàn xe buôn vào đất liền, làm những công việc lặt vặt: thu hoạch hoa màu và vá víu quần áo.
Càng đi sâu vào đất liền, bạn lại càng gặp ít những vị thần quen thuộc – nhưng vẫn chẳng một ai nhận ra tên vị thần được viết trên vầng trán bạn.
Ở nhà, dẫu không có thần linh che chở, nhưng bạn vẫn được bao bọc và yêu thương hết mực; còn ngoài này, bạn chỉ có một mình.
Bạn cố nén nỗi sợ đang dâng lên trong lòng và tiếp tục bước tới.
Ấy thế mà, bạn không khỏi vui sướng trước vẻ đẹp của mỗi một góc nhỏ mới mẻ trên thế gian này, cách nó mở ra trước mắt tựa như chính con đường bạn đang đi.
Biết bao chi tiết bé nhỏ mà bạn sẽ chẳng bao giờ biết đến nếu không rời khỏi quê nhà.
Những con đom đóm soi đường cho bạn trong các thung lũng um tùm.
Những con đại bàng sải cánh trên bầu trời thênh thang.
Bạn gặp được những người lạ tốt bụng: những người sẽ chỉ cho bạn chỗ nào để qua sông, con đường núi nào nên tránh; những người sẽ trầm ngâm ngắm nghía Thần Ấn của bạn, gõ cửa từng nhà, rồi cất công sang tận thị trấn bên cạnh mời một vị tư tế về chỉ để chắc chắn.
Ngay cả khi không ai trong số họ có thể giúp được, họ vẫn mời bạn ở lại dùng bữa, rồi chẳng mấy chốc đã trở thành một bữa tiệc.
Dần dần, vài người lạ đã trở thành bạn của bạn.
“Trong thế giới của những vị thần lớn và nhỏ này.” Một nông dân nói với bạn, “Hành trình tìm kiếm một vị thần là một việc cao cả. Đừng lo! Nếu không tìm được Ngài, lúc nào em cũng có thể tự tạo ra một vị. Chị có một thửa ruộng bỏ hoang ở phía sau; cũng có thể biến nó thành một ngôi đền lắm chứ.” Chị nháy mắt với bạn. “Chị có thể nghĩ đến những hàng xóm tệ hơn nhiều.”
Rốt cuộc, bạn đã ở lại với chị gần 1 tháng, khi bạn rời đi, đó là với một cảm giác ấm áp, thân thương đọng lại trong lồng ngực, tựa như than hồng được ủ kỹ.
Cứ như thế, bạn đi mãi, đi mãi, ngày càng rời xa quê nhà, học lỏm được một chút ngôn ngữ địa phương trên đường, gửi những lá thư viết vội về nhà qua bất kỳ thương nhân nào xuôi về phía biển.
Bạn nhớ bạn bè, nhớ cha mẹ; họ cháy sáng như một ngọn hải đăng trong ký ức của bạn, nhưng bạn vẫn tiến về phía trước, ngày một mạnh mẽ hơn khi cả thể chất và tinh thần bạn đã quen với việc di chuyển.
Đi tiếp đi, đi tiếp đi. Giờ thì không thể quay đầu lại được nữa rồi.
Và rồi, vào một ngày cuối hạ, bạn đến một vùng đất trù phú với những cây ô liu và bách; bạn đi qua một thị trấn và nhận ra, với một niềm phấn khích dâng trào, rằng bạn nhận ra vài con chữ trong tên của vị thần của bạn.
Trên tấm biển hiệu kia là hình mũi tên; còn đằng đó, là hình đầu đinh ba nằm ngang.
Bạn hỏi han khắp khu chợ, rồi một chàng trai tóc xoăn bán táo đã đăm chiêu gõ nhẹ vào cằm rồi đi gọi một người họ hàng lớn tuổi đang chơi bài với bạn bè dưới bóng mát của đền thần Mùa Màng.
“Tao khá chắc trước đây có một gia đình mang tên đó sở hữu mấy cánh đồng lúa mì cách đây không xa.” Ông nói. “Họ đã ly tán vì chiến tranh, nhưng chúng tôi vẫn gọi sườn đồi đó bằng tên họ. Sao mày không ở lại đến tối nay, khi trời mát hơn, rồi chúng ta sẽ cùng đi lên đó? Mày có thể xem xét xung quanh.”
Vậy là bạn nán lại qua ngày, lấy bộ kim chỉ ra khâu vá để giết thời gian.
Bạn ngắm nhìn 2 đứa trẻ đang chơi đùa gần đó.
Chúng tết những cành hoa màu hồng và trắng mà chúng hái đầy trong vạt áo ven đường lại với nhau.
Bạn nhớ lại lời của vị goá phụ già kia, rồi niềm phấn khích trong bạn lại dâng lên.
Có lẽ nào, cuối cùng, chính là nơi này.
Rồi một người lớn nào đó gọi chúng từ phía bên kia quảng trường, chúng vội vã chạy đi, tay trong tay.
Bạn nhìn theo chúng, sợi dây gắn kết bạn với quê nhà như thắt lại, nhói đau trong lồng ngực.
“Nếu đây lại là một ngõ cụt nữa.” Bạn tự nhủ, “Thì mình chẳng biết có thể đi xa hơn được nữa không.”
Bạn cảm thấy mình như con nước triều đang dâng lên đến đỉnh điểm; chẳng bao lâu nữa sẽ phải quay về với biển khơi.
Cuối ngày, người bán táo và ông chú của anh mang cho bạn một ly nước và một quả táo giòn, lấm tấm đốm đỏ từ sạp hàng của họ.
Bạn nghĩ rằng mình không đói, nhưng khi hàm răng cắn ngập vào lớp vỏ, bạn mới nhận ra mình đã đói cồn cào.
Vừa ăn, bạn vừa cùng họ đi bộ ra khỏi thị trấn, lên những cánh đồng nhấp nhô phía xa.
Người bán táo kể rằng chúng từng thuộc về một người gieo hạt và các con trai của ông, nhưng khi Chiến Tranh ập đến, chẳng còn ai sống sót để chăm sóc cho chúng. Từ lâu chúng đã được chia cho các trang trại lân cận.
Sắp đến mùa gặt, thân lúa đã cao và óng ả, dập dờn như những con sóng trong làn gió chiều.
Ở làng bạn, những ngôi đền được đánh dấu bằng những ngọn tháp hiệu cao vút.
Ánh sáng của chúng có thể được nhìn thấy từ ngoài khơi xa, nơi những thủy thủ chạm tay vào Thần Ấn của mình và nghĩ về quê nhà.
Bạn nhìn quanh, hy vọng tìm thấy một toà nhà, một mái đình, bất cứ thứ gì, nhưng chẳng có gì xuất hiện cả.
Nỗi thất vọng mắc lại trong lồng ngực bạn như một chiếc lưỡi câu.
Khi mặt trời lặn, nhuộm tím cả bầu trời trên những cánh đồng vàng rực, bạn thấy mình chỉ còn biết cúi đầu nhìn xuống chân.
Đôi giày của bạn đã mòn vẹt đến sắp rách.
Để làm gì chứ?
Lẽ ra bạn nên ở nhà.
“Cảm ơn 2 anh.” Bạn nói với người bán táo, khi mà người họ hàng lớn tuổi của anh đã bắt đầu thở hổn hển và chống gậy một cách nặng nhọc. “Tôi sẽ ở lại đây một lát.”
Cảm nhận được sự thất vọng của bạn, anh gật đầu.
“Nếu tối nay cô cần chỗ ngủ, nhà chúng tôi vẫn còn chỗ.” Anh ngỏ lời.
Bạn biết ơn gật đầu, rồi nhìn theo bóng họ cẩn trọng đi xuống làng, để lại một mình bạn trên sườn đồi.
Bạn ngồi phịch xuống thân một cây cổ thụ đã chết từ lâu.
Nó đen sì như thể bị sét đánh.
Bạn cho phép mình khóc, một lúc thôi, điều đó làm bạn dịu lại.
Bạn gục đầu vào lòng bàn tay, nhẹ nhàng cảm nhận Thần Ấn của mình.
“Con xin lỗi.” Bạn thì thầm. “Con xin lỗi vì đã không thể tìm thấy Ngài.”
Ngay khi những tiếng nức nở của bạn vừa ngớt, bạn cảm thấy một cái vỗ vai rụt rè.
1 trong 2 đứa trẻ ban nãy đang đứng trước mặt bạn, đứa còn lại đang lẽo đẽo theo sau như một cái bóng.
“Chị có sao không ạ?” Cậu bé hỏi, không chắc phải an ủi một người lớn như thế nào.
Lau nước mắt, bạn gật đầu. “2 đứa làm gì ngoài này vậy? Trời sắp tối rồi nè.”
“Tụi em đến hái ít hoa. Hoa ở quanh đây đẹp nhất ạ.”
“Những bông hoa màu hồng mà ban nãy các em tết lại ấy hả? Chúng đáng yêu thật.”
Bạn của cậu bé rụt rè đưa cho bạn một vòng hoa.
Nó được tết một cách vụng về, nhưng vẫn rất đẹp.
“Chị có thể lấy cái này ạ.”
Bạn nhận lấy vòng hoa với lời cảm ơn chân thành, rồi chỉ vào những bông hoa vẫn còn nắm chặt trong bàn tay nhỏ bé của cô bé.
“Thế còn bó hoa đó thì sao?”
“Nó dành cho vị thần trên đồi ạ.” Cậu bé đáp tỉnh bơ.
Bạn cảm thấy như thể mình vừa bị sét đánh.
“Vị thần ư?” Bạn hỏi, cố giữ giọng mình thật nhẹ nhàng.
Nhưng vẫn không giấu được vẻ run rẩy trong nó.
“Chị không biết có một ngôi đền trên những cánh đồng này. Vị thần nào sống ở đó vậy?”
Cô bé nắm lấy tay bạn và bạn vội vã đứng dậy, đi theo con bé lên một lối mòn mờ đến mức gần như không thấy; chỉ là một gợi ý, một vệt cỏ rạp xuống trên cánh đồng.
“Vị thần này ư? Ngài là vị thần của những quả táo.” Cô bé tự tin nói vọng lại qua vai.
“Không phải, Ngài là vị thần của tình bạn.” Cậu bé đính chính từ phía sau bạn.
“Chị tớ bảo Ngài cũng là vị thần của những cánh đồng và hoa lá nữa.”
“Đó chẳng phải là thần Mùa Màng sao?”
“Thật ra, có đến 2 vị thần lận.” Cô bé chen vào, khi bạn dừng lại để lấy hơi trên đỉnh đồi.
“Một vị thân thiện hơn, vị kia thì hơi nhút nhát. Họ không quen có khách đến thăm nhưng miễn là chị để lại cho họ thứ gì đó hoặc ngồi cầu nguyện một lúc, họ sẽ lắng nghe chị, còn hơn cả vị thần Mùa Màng khó ưa kia, Ngài ấy chẳng bao giờ đoái hoài đến em, dù em có Thần Ấn của Ngài.”
Bạn nắm chặt mặt dây chuyền của cô bạn thân trong tay.
Bạn đang run lên. “Chị nghĩ mình có thứ để dâng lên cho 2 Ngài.”
2 đứa trẻ bước lên trước, bạn theo sau, vừa sợ, vừa hy vọng, gần như nín thở.
Ở ngay rìa cánh đồng, gần hàng cây, có một ụ đá nhỏ, được xếp bằng những hòn đá màu xám xanh.
Nó được che bóng bởi lá cây, với những vệt vàng đầu tiên của mùa thu đang lan dần trong sắc xanh.
Khi bạn rời nhà, trời mới chỉ chớm xuân.
“Chúng con mang hoa đến cho Ngài đây ạ.” Cậu bé nói, quỳ xuống trước ụ đá.
Cậu bé đang nói với vị thần.
Vị thần của bạn.
“Và có một người mới đến gặp Ngài này.” Cậu bé nói thêm, lùi lại để bạn có thể tiến đến gần. “Chị ấy từ rất xa đến đây nên xin Ngài hãy đối tốt với chị ấy nhé.”
Bạn quỳ xuống trước ụ đá nhỏ, tháo mặt dây chuyền ra.
Khi làm vậy, mái tóc bạn được vén khỏi trán, để lộ Thần Ấn.
“Con đã hứa với bạn mình sẽ tặng thứ này cho vị thần của con.” Bạn thì thầm vào phiến đá. “Ngài là vị thần như thế nào ạ?”
Một khoảng lặng kéo dài.
Và rồi, an ủi như bước chân đầu tiên từ một con thuyền bị bão dập vùi lên mặt đất liền, một giọng nói vang lên trong tâm trí bạn:
“Ta là vị thần của những mối liên kết không thể phá vỡ và tình bạn vĩnh cửu. Con nói một lời hứa đã đưa con đến đây ư? Ta nghĩ chúng ta sẽ rất hợp nhau đấy.”
Và rồi, khi nước mắt mặn chát lại ứa ra trong mắt bạn, một giọng nói khác lại cất lên.
Một giọng nói trầm, cổ xưa, được tạo nên từ tiếng lá xào xạc, từ sương mai buổi sớm, từ những cánh hoa rơi và từ đất mới xới.
“Arepo.” Vị thần vui mừng cất tiếng, “Có vẻ như ông đã tìm thấy nữ tư tế đầu tiên của mình rồi.”